Các liệu pháp chống tiêu xương ức chế sự tiến triển của di căn xương và giảm nguy cơ phát triển các biến cố liên quan đến xương như gãy xương và những cơn đau. Bisphosphonates và Denosumab, thông qua các cơ chế khác nhau, làm giảm hoạt động của hủy cốt bào do đó dẫn đến tác dụng hiệu quả trong chống tiêu xương.

Hoại tử xương hàm do thuốc (MRONJ là viết tắt của “Medication - Related Osteonecrosis of the Jaws") đặc trưng bởi phần xương chết/hoại tử bị lộ ra ở xương hàm dưới hoặc xương hàm trên ở những bệnh nhân điều trị bằng thuốc chống tiêu xương và thuốc chống tạo mạch khác nhau (Tạo mạch - Là quá trình tạo mạch máu mới từ những mạch máu có trước đó). Nhóm thuốc liên quan nhiều nhất là Bisphosphonate. So với xương hàm, các xương khác trong cơ thể hiếm khi bị ảnh hưởng (như xương thái dương, xương chi). Mặc dù phần lớn các trường hợp thường xảy ra ở bệnh nhân ung thư điều trị bằng Bisphosphonate và Denosumab tĩnh mạch liều cao (chủ yếu cho bệnh đa u tủy và di căn vú, phổi và ung thư tuyến tiền liệt), tuy nhiên vẫn có những báo cáo về tình trạng này ở những bệnh nhân sử dụng Bisphosphonate đường uống để điều trị loãng xương. Các chất chống tạo mạch cũng có liên quan với MRONJ, trong trường hợp không bao gồm các liệu pháp chống tiêu xương đồng thời, gồm Bevacizumab, Sunitinib, và Cabozantinib. Hoại tử xương do xạ trị là một tình trạng lâm sàng tương tự, liên quan đến liệu pháp xạ trị vùng đầu cổ.

Hình 1. Hoại tử xương hàm liên quan đến thuốc (MRONJ) ảnh hưởng đến hàm dưới bên trái sau nhổ răng ở bệnh nhân ung thư có tiền sử điều trị bằng Bisphosphonat IV. Lưu ý, xương hoại tử nhìn trông xù xì kèm nhiễm trùng thứ phát và mô mềm xung quanh bị phù nề.
Hình 1. Hoại tử xương hàm liên quan đến thuốc (MRONJ) ảnh hưởng đến hàm dưới bên trái sau nhổ răng ở bệnh nhân ung thư có tiền sử điều trị bằng Bisphosphonat IV. Lưu ý, xương hoại tử nhìn trông xù xì kèm nhiễm trùng thứ phát và mô mềm xung quanh bị phù nề.
Hình 2. Vết loét thứ phát ở bên trái lưỡi (mũi tên ngắn) do ma sát với các cạnh sắc của xương hoại tử lộ ra trên đường hàm móng hàm dưới bên trái (mũi tên dài). Bệnh nhân cảm thấy đau lan xuống cổ họng. Xương được mài nhẵn bằng một cái dũa và vết loét đã được tiêm Triamcinolone Acetonide, giúp giảm đau ngay lập tức và lành vết thương nhanh chóng.
Hình 2. Vết loét thứ phát ở bên trái lưỡi (mũi tên ngắn) do ma sát với các cạnh sắc của xương hoại tử lộ ra trên đường hàm móng hàm dưới bên trái (mũi tên dài). Bệnh nhân cảm thấy đau lan xuống cổ họng. Xương được mài nhẵn bằng một cái dũa và vết loét đã được tiêm Triamcinolone Acetonide, giúp giảm đau ngay lập tức và lành vết thương nhanh chóng.

Các yếu tố khởi phát bao gồm nhiễm trùng miệng, nhổ răng, và chấn thương cục bộ; tuy nhiên, một số trường hợp, bệnh có thể phát triển một cách tự nhiên mà không có yếu tố tác động cụ thể. Mặc dù bằng chứng sinh lý bệnh không rõ ràng, nhưng MRONJ có thể là sự kết hợp của những yếu tố sau: (a) Sự ức chế hủy cốt bào và ức chế mạnh các cơ chế luân chuyển & sửa chữa xương, cũng như tăng khoáng hóa xương và mất vi mạch, (b) Hệ vi sinh vật miệng ngăn cách với màng xương chỉ bởi một lớp niêm mạc rất mỏng, dễ bị chọc thủng, (c) Tỷ lệ nhiễm trùng răng trong dân số trưởng thành khá phổ biến, và (d) Sự tiếp xúc và tổn thương xương ổ răng trong quá trình phẫu thuật miệng.

Hình 3. Lỗ dò ngoài miệng ở hàm dưới bên phải trên bệnh nhân MRONJ tiến triển
Hình 3. Lỗ dò ngoài miệng ở hàm dưới bên phải trên bệnh nhân MRONJ tiến triển 

Các tổn thương xuất hiện dưới dạng các vùng xương hoại tử lộ ra màu vàng hoặc trắng có chiều dài từ vài milimet đến vài centimet (Hình 1). Bề mặt có thể gồ ghề, gây kích ứng lưỡi và đôi khi loét do chấn thương (Hình 2 ). Các mô mềm xung quanh thường đỏ và sưng lên để đáp ứng với sự nhiễm khuẩn nặng ở mô xương chết (Hình 3), hoặc hàm dưới có thể trở nên "giòn" hơn và có nguy cơ gãy xương. Dù các nghiên cứu cho thấy việc chụp X quang là không cần thiết cho chẩn đoán, nhưng nếu đáp ứng điều trị ban đầu chưa tốt hoặc nghi ngờ có biến chứng (Hình 4) thì nên chụp X quang toàn hàm hoặc CT Scan.

Hình 4. Các đặc điểm X quang đặc trưng của MRONJ. Ở phía bên phải có một ổ răng cũ tại vùng răng tiền cối - nơi một chiếc răng đã được nhổ 2 năm trước (mũi tên đặc, dài), bề mặt không đều với phần xương mục (mũi tên chấm) và xơ cứng diện rộng làm mất ranh giới của động mạch huyệt răng dưới (mũi tên nét đứt). Lưu ý, so sánh với phía bên trái, trông tương đối bình thường. Động mạch huyệt răng dưới bên trái được nhìn thấy rõ ràng (mũi tên đặc ngắn).
Hình 4. Các đặc điểm X quang đặc trưng của MRONJ. Ở phía bên phải có một ổ răng cũ tại vùng răng tiền cối - nơi một chiếc răng đã được nhổ 2 năm trước (mũi tên đặc, dài), bề mặt không đều với phần xương mục (mũi tên chấm) và xơ cứng diện rộng làm mất ranh giới của động mạch huyệt răng dưới (mũi tên nét đứt). Lưu ý, so sánh với phía bên trái, trông tương đối bình thường. Động mạch huyệt răng dưới bên trái được nhìn thấy rõ ràng (mũi tên đặc ngắn).

Việc điều trị nhằm mục đích làm giảm các triệu chứng hơn là chữa lành vết thương hoàn toàn. Các cạnh xương sắc nhọn có thể được làm nhẵn bằng dũa xương (bone file) mà không cần gây tê tại chỗ vì xương không còn sống. Các mảnh xương di động, hoặc mảnh xương "mục", cũng có thể được loại bỏ bằng cây nạo hoặc kẹp cắt (Hình 5).

Hình 5. Hoại tử xương hàm liên quan đến thuốc với diện tích hoại tử lớn, lộ ra xương trên đường hàm móng hàm dưới bên trái cùng với hình ảnh tổ chức mô mềm bao xung quanh khỏe mạnh. (a) Sờ nắn xương cho thấy sự di động, quan sát có một khối xương hoại tử lớn. (b) Khối xương được loại bỏ không đau với hình ảnh mọt gặm mà không cần gây tê tại chỗ. (c) Sự lành thương ngay lập tức sau khi loại bỏ khối xương hoại tử
Hình 5. Hoại tử xương hàm liên quan đến thuốc với diện tích hoại tử lớn, lộ ra xương trên đường hàm móng hàm dưới bên trái cùng với hình ảnh tổ chức mô mềm bao xung quanh khỏe mạnh. (a) Sờ nắn xương cho thấy sự di động, quan sát có một khối xương hoại tử lớn. (b) Khối xương được loại bỏ không đau với hình ảnh mọt gặm mà không cần gây tê tại chỗ. (c) Sự lành thương ngay lập tức sau khi loại bỏ khối xương hoại tử
Hình 6. Đặt stent acrylic bảo vệ trên vị trí nhổ răng ở bệnh nhân (Hình 12.3) để ngăn thức ăn, giảm lực tác động và kích ứng mô mềm.
Hình 6. Đặt stent acrylic bảo vệ trên vị trí nhổ răng ở bệnh nhân (Hình 12.3) để ngăn thức ăn, giảm lực tác động và kích ứng mô mềm.

Cơn đau trong hầu hết các trường hợp là do nhiễm trùng mô mềm lân cận thứ phát, có thể được điều trị bằng thuốc kháng sinh tại chỗ và/hoặc toàn thân. Trong trường hợp viêm mô mềm mạn tính hoặc có mủ lớn, bệnh nhân có thể cần dùng kháng sinh dài ngày. Chỉ định phẫu thuật xâm lấn nên tránh ở phần lớn bệnh nhân. Nếu cơn đau vẫn tiếp tục xảy ra khi ăn, mặc dù đã điều trị bảo tồn và kiểm soát nhiễm trùng, thì việc chế tạo stent phẫu thuật có thể có hiệu quả trong việc giảm hoặc loại bỏ các triệu chứng (Hình 6).

Nên hoàn tất kiểm tra nha khoa trước khi bắt đầu điều trị bằng thuốc chống tiêu xương. Đối với những bệnh nhân có nguy cơ tiến triển MRONJ (ví dụ: cần nhổ răng) cũng như những bệnh nhân đã mắc MRONJ, tác dụng của liều thay thế/giảm liều vẫn chưa rõ ràng.

XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁNKhông có; xem xét chụp X quang toàn hàm hoặc CT Scan nếu có gãy xương hoặc nghi ngờ có khối xương hoại tử lớn.
SINH THIẾTKhông có, trừ khi có nghi ngờ về mặt lâm sàng đối với bệnh có di căn
ĐIỀU TRỊChỉ những tổn thương có triệu chứng mới cần điều trị. Các cạnh xương thô hoặc không đều gây kích ứng mô nên được làm nhẵn và những mảnh xương vỡ mục nên được loại bỏ. Nhiễm trùng mô mềm không có tình trạng sưng hoặc mủ thường có thể được kiểm soát chỉ bằng bơm rửa Chlorhexidine, nếu không thì có thể kê toa kháng sinh toàn thân trong 7–10 ngày. Tốt nhất, việc lựa chọn kháng sinh nên được thực hiện theo hướng truyền thống; tuy nhiên, hầu hết là cơ thể nhạy cảm với nhóm Penicillin. Quinolon, Metronidazole, Clindamycin, và Erythromycin là những lựa chọn thay thế chấp nhận được đối với bệnh nhân dị ứng Penicillin. Liều kháng sinh dài ngày có thể cần thiết trong các tình huống khó chữa, đặc biệt là những tình huống tái phát đau và sưng.
THEO DÕIBệnh nhân phải được theo dõi chặt chẽ ngay từ đầu để đánh giá đáp ứng với điều trị. Bệnh nhân khi đạt được tình trạng ổn định, không có triệu chứng nên được kiểm tra 6 tháng một lần.
Bảng 1. Cận lâm sàng và điều trị, theo dõi

Tài liệu gốc: “Clinical Oral Medicine and Pathology by Jean M. Bruch, Nathaniel Treister.